Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

chức danh lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam

Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 1951 đến 1969, vị trí cao nhất là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam của Hồ Chí Minh; tuy nhiên, sau khi Hồ Chí Minh qua đời, chức danh này bị bãi bỏ và Tổng Bí thư trở lại thành chức vụ cao nhất. Từ 1960 đến 1976, chức vụ này được gọi là Bí thư thứ nhất. Đây là chức danh lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Communist Party of Vietnam flag logo.svg
Đảng huy Đảng Cộng sản Việt Nam
Flag of the Communist Party of Vietnam.svg
Nguyen phu trong 2021.jpg
Đương nhiệm
Nguyễn Phú Trọng

từ 19 tháng 1 năm 2011
12 năm, 10 ngày
Chức vụĐồng chí Tổng Bí thư
Dinh thựVăn phòng Trung ương Đảng 1A Hùng Vương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội
Đề cử bởiBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bổ nhiệm bởiBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm kỳ5 năm
Không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp (theo Điều lệ Đảng)[1]
(Trường hợp đặc biệt do Đại hội Đảng quyết định)
Người đầu tiên giữ chứcTrần Phú
Thành lập3/2/1930
Lương23.400.000 VNĐ/tháng (Từ 1/7/2023)[2]
WebsiteTrang web Đảng Cộng sản Việt Nam

Tổng Bí thư là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các quyền hạn khác. Hiện nay, Tổng Bí thư cũng kiêm nhiệm Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Theo điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản sẽ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Bộ Chính trị và bầu Tổng Bí thư từ một trong các Ủy viên Bộ Chính trị. Kể từ năm 2001, nhiệm kỳ Tổng Bí thư tương đương nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương; đồng chí Tổng Bí thư sẽ giữ chức vụ cho tới khi Ban Chấp hành Trung ương khóa mới bầu ra Tổng Bí thư mới.

Lịch sử

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 6 tháng 1 năm 1930, người đứng đầu điều hành Ban Chấp hành Trung ương Đảng đầu tiên với cương vị Phụ trách Điều hành Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu (đến tháng 10 năm 1930).

Tháng 4/1930, Trần Phú trở về từ Liên Xô. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ Trung ương chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 1 và dự thảo cương lĩnh chính trị. Hội nghị lần thứ 1 tháng 10/1930 quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương và bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Luận cương chính trị. Ông giữ chức vụ tới khi bị Pháp bắt tháng 4/1931. Trong thời gian từ 1931–1935, chức vụ Tổng Bí thư bị khuyết.

Trong thời gian 1930–1931, các tổ chức cộng sản tại Đông Dương lần lượt bị khủng bố. Năm 1932, Quốc tế cộng sản ra chỉ thị xây dựng lại tổ chức cộng sản. Dưới sự chỉ đạo của Lê Hồng Phong. Hội nghị Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức tại Macao tháng 6/1934 và Lê Hồng Phong được bầu làm Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tại Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Tại Hội nghị Trung ương năm 1936, Ban Chấp hành đã bầu Hà Huy Tập thay cho Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư và về nước tổ chức lại lực lượng cộng sản. Tại Hội nghị Trung ương năm 1938 tổ chức tại Bà Điểm, Hà Huy Tập thôi chức vụ Tổng Bí thư, Ban Chấp hành quyết định bầu Nguyễn Văn Cừ kế nhiệm. Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt về kết án năm 1940, Hội nghị Trung ương năm 1940 buộc phải nhóm họp tại Đình Bảng, hội nghị quyết định chỉ định Trường Chinh khi đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương làm quyền Tổng Bí thư, và tại Hội nghị năm 1941 được bầu làm Tổng Bí thư.

Cả bốn Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) đều bị thực dân Pháp bắt giam và hy sinh trong quá trình hoạt động cách mạng khi còn khá trẻ (2 người đầu tiên qua đời khi bị giam trong nhà tù Pháp, 2 người sau bị Pháp xử tử hình).

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Việt Nam và thực dân Pháp giao tranh chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1951 tại Đại hội Đảng lần thứ II, Đại hội quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam đồng thời bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và Trường Chinh tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư. Trong thời gian này 1951–1969, chức vụ Chủ tịch Đảng là chức vụ quyền lực nhất của Đảng, lớn hơn cả Tổng Bí thư. Trong thời gian cải cách ruộng đất vì những sai lầm nghiêm trọng, Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa II, Hồ Chí Minh với chức vụ Chủ tịch Đảng được Trung ương Đảng phân công kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư.[3] Đại hội lần thứ III, thành lập chức vụ Bí thư thứ nhất do Lê Duẩn đảm nhiệm. Chủ tịch Đảng là chức vụ cấp cao nhất, nhưng thực tế Bí thư thứ nhất đảm nhiệm chính công tác của đảng. Sau khi thống nhất năm 1975, Đại hội Đảng lần thứ IV được tổ chức, tên Đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Việt Nam và chức vụ được đổi thành Tổng Bí thư. Chức vụ do Lê Duẩn nắm giữ cho tới khi qua đời.

 
Tổng bí thư Lê Duẩn gặp Mao Trạch Đông

Sau khi Lê Duẩn mất, Trung ương chưa kịp bước vào Đại hội nên tại Hội nghị đặc biệt tổ chức năm 1986 tại Hà Nội quyết định bầu Trường Chinh khi đó đang đảm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước làm Tổng Bí thư cho tới Đại hội Đảng được tổ chức. Đại hội Đảng lần thứ VI được tổ chức cuối năm 1986, Đại hội đã bầu Nguyễn Văn Linh khi đó đang là Thường trực Ban Bí thư, sau khi Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ đồng ý cải cách kinh tế xóa bỏ bao cấp chấp thuận người cải cách đảm nhiệm chức vụ. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ trở thành cố vấn Ban Chấp hành Trung ương với nhiệm vụ giám sát cải cách. Cũng kể từ thời điểm này, Tổng Bí thư chính thức kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương. Nguyễn Văn Linh được báo chí phương Tây gọi là "Gorbachev của Việt Nam".

Sau 1 nhiệm kỳ Nguyễn Văn Linh không tái cử khóa sau và cùng Võ Chí Công làm cố vấn Trung ương sau khi Trường Chinh và Lê Đức Thọ vừa mất trước đó tại Đại hội lần thứ VII, Đại hội cũng quyết định bầu Đỗ Mười làm Tổng Bí thư.

Đỗ Mười làm Tổng Bí thư cho tới Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII, sau khi cả ba lãnh đạo cố vấn Trung ương là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Võ Chí Công quyết định rút lui nhường cho 3 lãnh đạo Đảng và Nhà nước Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt chính thức trở thành cố vấn Trung ương và tại Hội nghị cũng quyết định bầu Thượng tướng Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ IX của Đảng đã quyết định bầu Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư, là Tổng Bí thư đầu tiên có bằng đại học. Tức là từ bây giờ, Tổng Bí thư sẽ phải đạt được các điều kiện sau: Có bằng đại học, có nhiệm kỳ chính thức sát với Trung ương Đảng và có thể giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Đại hội lần thứ X của Đảng Nông Đức Mạnh tái đắc cử Tổng Bí thư lần thứ 2, đến năm 2011 thì chính thức nghỉ hưu.

Đại hội lần thứ XI của Đảng quyết định bầu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương. Tại Đại hội lần thứ XII, đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được bầu giữ chức Tổng Bí thư. Đại hội lần thứ XIII Nguyễn Phú Trọng tiếp tục tái đắc cử Tổng Bí thư. Do giữ chức vụ này ba khóa liên tiếp XI, XII, XIII, ông trở thành Tổng Bí thư có thời gian tại vị lâu thứ ba sau Tổng Bí thư Lê Duẩn (26 năm) và Tổng Bí thư Trường Chinh (16 năm).

Trách nhiệm và quyền hạn

 
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo

Tổng Bí thư chịu trách nhiệm cao nhất trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cùng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chịu trách nhiệm trước toàn đảng và toàn dân về sự lãnh đạo trên mọi lĩnh vực công tác, chủ trì công việc thường nhật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương. Chỉ đạo tổ chức, quán triệt triển khai thực hiện sơ kết, tổng kết các nghị quyết, quy chế thông báo của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Thi hành thẩm tra việc tuân thủ Điều lệ Đảng, cương lĩnh chính trị, nghị quyết Đại hội Đảng,... trong các tổ chức cơ quan của Đảng.[4]

Kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ đạo những vấn đề về quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Trung ương, là lãnh đạo cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký các chiến lược, nghị quyết, quyết định, kết luận, quy chế, quy định, thông báo, thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi, báo cáo, thông tri, hướng dẫn, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ký các văn bản trong lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ, ký các Quyết định chuẩn y chức danh theo quy định Điều lệ Đảng, quyết định điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, nghỉ hưu đối với cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương Đảng quản lý.

Có thể thảo luận với Ban Chấp hành Trung ương thành lập, giải thể các cơ quan trực thuộc Trung ương Đảng quản lý.[5]

Danh sách Tổng Bí thư qua các thời kỳ

Đảng Cộng sản Đông Dương (1930 – 1951)

Phụ trách điều hành Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời (1930)

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
-
 
Trịnh Đình Cửu

(1906–1990)

03 tháng 2 năm 1930 – 27 tháng 10 năm 1930Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời
(1930)

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương (1930 – 1931)

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
1 Trần Phú

(1904–1931)

27 tháng 10 năm 1930 – 19 tháng 4 năm 1931Ban Chấp hành Trung ương
(1930–1931)

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương (1935 – 1951)

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
2 Lê Hồng Phong

(1902–1942)

31 tháng 3 năm 1935 – 26 tháng 7 năm 1936Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1935–1951)
3 Hà Huy Tập

(1906–1941)

26 tháng 7 năm 1936 – 30 tháng 3 năm 1938
4 Nguyễn Văn Cừ

(1912–1941)

30 tháng 3 năm 1938 – 09 năm 11 năm 1940
- Trường Chinh

(1907–1988)

09 tháng 11 năm 1940 – 19 tháng 5 năm 1941
(quyền)
519 tháng 5 năm 1941 – 19 tháng 2 năm 1951

Đảng Lao động Việt Nam (1951 – 1976)

Tổng Bí thư (1951 – 1976)

Trong thời gian cải cách ruộng đất vì những sai lầm nghiêm trọng, Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa II, Hồ Chí Minh với chức vụ Chủ tịch Đảng được Trung ương Đảng phân công kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư.

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương (1951–1960)
5 Trường Chinh

(1907–1988)

19 tháng 2 năm 1951 – 05 tháng 10 năm 1956Ban Chấp hành Trung ương khóa II (1951–1960)
6 Hồ Chí Minh

(1890–1969)

05 tháng 10 năm 1956 – 10 tháng 9 năm 1960
Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (1960–1976)
7 Lê Duẩn

(1907–1986)

10 tháng 9 năm 1960 – 02 tháng 7 năm 1976Ban Chấp hành Trung ương khóa III (1960–1976)

Chủ tịch Đảng (1951 – 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người duy nhất nắm giữ chức vụ này trong giai đoạn 1951–1969. Trong giai đoạn này, Chủ tịch Đảng là chức vụ có quyền hạn và trách nhiệm lớn nhất, hơn cả Tổng Bí thư. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, chức vụ này bị bãi bỏ

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
1 Hồ Chí Minh

(1890–1969)

19 tháng 2 năm 1951 – 02 tháng 9 năm 1969Ban Chấp hành Trung ương khóa II (1951–1960)
Ban Chấp hành Trung ương khóa III (1960–1976)

Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (1962 – 1975)

Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam là chi bộ của Đảng Lao động Việt Nam ở phía Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Đảng Nhân dân Cách mạng chịu sự lãnh đạo của Đảng Lao động dù bên ngoài về lý thuyết 2 đảng hoạt động độc lập với nhau. Cơ cấu tổ chức của Đảng Nhân dân Cách mạng khá tương đồng với Đảng Lao động. Có 2 chức vụ chính là Chủ tịch Đảng và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Điều hành Đảng thực tế thuộc về Trung ương Cục Miền Nam, Khu ủy Khu V, Khu ủy Khu Trị Thiên trực thuộc Trung ương Đảng Lao động. Sau 30/4/1975, Đảng hoạt động trên danh nghĩa Đảng Lao động, danh xưng Đảng Nhân dân Cách mạng không còn nữa.

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
Chủ tịch Đảng (1962-1975)
- Võ Chí Công

(1912–2011)

01 tháng 1 năm 1962 – 30 tháng 4 năm 1975Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1962–1975)
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương (1962-1975)
- Nguyễn Văn Linh

(1915–1998)

01 tháng 1 năm 1962 – 30 tháng 4 năm 1975Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1962–1975)

Đảng Cộng sản Việt Nam (1976 – nay)

Sau chiến thắng 1975 thống nhất đất nước, năm 1976, tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam đã được sử dụng trở lại, trên cơ sở sáp nhập Đảng Lao động Việt NamĐảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam.

Thứ tựChân dungHọ tên (Sinh mất)Nhiệm kỳBan Chấp hành Trung ương
7 Lê Duẩn

(1907–1986)

02 tháng 7 năm 1976 – 10 tháng 7 năm 1986
(mất khi đang tại nhiệm)
Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (1976–1982)
Ban Chấp hành Trung ương khóa V (1982–1986)
8 Trường Chinh

(1907–1988)

14 tháng 7 năm 1986 – 18 tháng 12 năm 1986
9 Nguyễn Văn Linh

(1915–1998)

18 tháng 12 năm 1986 – 28 tháng 6 năm 1991Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (1986–1991)
10 Đỗ Mười

(1917–2018)

28 tháng 6 năm 1991 – 26 tháng 12 năm 1997Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1991–1996)
Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1996–2001)
11 Thượng tướng Lê Khả Phiêu

(1931–2020)

26 tháng 12 năm 1997 – 22 tháng 4 năm 2001
12 Nông Đức Mạnh
(1940–)
22 tháng 4 năm 2001 – 19 tháng 1 năm 2011Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2001–2006)
Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2006–2011)
13 
Nguyễn Phú Trọng
(1944–)
19 tháng 1 năm 2011 – đương nhiệmBan Chấp hành Trung ương khóa XI (2011–2016)
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2016–2021)
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (2021–2026)

Các nguyên Tổng Bí thư còn sống

Tính đến ngày 1 tháng 3 năm 2022, chỉ có duy nhất nguyên Tổng Bí thư còn sống là Nông Đức Mạnh. Nguyên Tổng Bí thư qua đời gần đây nhất là Lê Khả Phiêu vào ngày 7 tháng 8 năm 2020 sau tuổi 89. Dưới đây là danh sách nguyên Tổng Bí thư còn sống được xếp theo thứ tự nhiệm kỳ:

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “Điều lệ Đảng (do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua)”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 20 tháng 9 năm 2018.
  2. ^ “Bảng lương Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội năm 2023”. Thư viện pháp luật. ngày 21 tháng 11 năm 2022.
  3. ^ “Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng về chức Tổng Bí thư của Đảng, về Bộ Chính trị và Ban Bí thư”. dangcongsan.vn.
  4. ^ Lan Vũ (ngày 5 tháng 10 năm 2018). “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giữ vai trò thế nào?”. Luật Việt Nam.
  5. ^ “Bổ sung mới về trách nhiệm, quyền hạn của Tổng Bí thư và Thường trực Ban Bí thư”. Sài Gòn giải phóng online. ngày 15 tháng 7 năm 2021.

Liên kết ngoài

🔥 Top keywords: 2112: Doraemon ra đời300 (phim)Anh hùng xạ điêu (phim truyền hình 2003)Bùng phát virus Zika 2015–2016Chuyên gia trang điểmCristiano RonaldoCá đuối quỷDanh sách Tổng thống Hoa KỳDanh sách câu thần chú trong Harry PotterDanh sách tài khoản Instagram có nhiều lượt theo dõi nhấtGiải Oscar cho phim ngắn hay nhấtHoan Ngu Ảnh ThịHầu tướcHọc thuyết tế bàoJason Miller (communications strategist)Lễ hội Chọi trâu Đồ SơnLộc Đỉnh ký (phim 1998)Natapohn TameeruksNinh (họ)Phim truyền hình Đài LoanRobloxThanh thiếu niênThần tượng teenThổ thần tập sựTrang ChínhTập hợp rỗngTỉnh của Thổ Nhĩ KỳVõ Thần Triệu Tử LongXXX (loạt phim)Âu Dương Chấn HoaĐào Trọng ThiĐại học Công giáo ParisĐệ Tứ Cộng hòa PhápĐổng Tiểu UyểnĐài Tiếng nói Việt NamTrang ChínhĐặc biệt:Tìm kiếmNhà bà NữMâyĐài Truyền hình Việt NamXì dáchViệt NamTrần Thị Nguyệt ThuNguyễn Xuân PhúcChủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamNguyễn Phú TrọngTrà sữa trân châuCộng hòa Nam PhiTập tin:VOV Headquarters.pngWWEChatGPTNovak DjokovicAndy CarrollMười hai con giápCúp FABài Tiến lênPhạm Minh ChínhTết Nguyên ĐánTrần Ngọc TràVõ Thị Ánh XuânĐặc biệt:Thay đổi gần đâyNgày ValentineBố già (phim 2021)Hồ Chí MinhBùi Thị XuânTô LâmKim Min-jae (cầu thủ bóng đá)Nguyễn Tấn DũngChị chị em emNelson MandelaApartheidCristiano RonaldoChợ Viềng